CHUYỆN GHI-NÊ GIỜ MỚI KỂ – 5

VIỆT KIỀU Ở GHI-NÊ

Việt kiều ở Ghi-nê không nhiều. Chỉ có một người đàn ông, tên ông Đa. Ông này khi ở VN bị bắt đi lính cho Pháp, được điều động sang đất nước Con Gà Trống. Rồi chẳng hiểu trời xui đất khiến thế nào, ông trôi dạt tận tới vùng đất Tây Phi xa lắc xa lơ này.

Z2400
Chụp với Việt kiều tại Ghi-nê

Còn lại toàn đàn bà. Các chị là vợ của các hàng binh, tù binh người Phi bị nước mẹ bắt làm lính sang đánh nhau tại chiến trường Đông Dương. Khi còn nhỏ, tại hạ thường được người lớn kể cho nghe về những người lính da đen. Tất cả họ đều được gọi là Marocain. Và tại hạ cũng cứ đinh ninh như thế. Sau này mới biết Marocain chỉ là người Ma-rốc, da họ không đen.

Khi sang Ghi-nê lại hiểu thêm. Các chị Việt kiều này trước đây hầu hết là những cô gái lỡ thì quá lứa, hoặc có “phốt” gì đó không sống được ở quê. Họ phải lên tận những nông trường mãi vùng sơn cước. Rồi tại đó, họ gắn bó với những người lính hàng binh châu Phi nọ cùng làm với nhau ở nông trường. Hồi cuối thập niên 60 của thế kỷ trước, cuộc sống tại các nông trường quốc doanh không mấy sáng sủa. Các chị phải bầu đoàn thê tử kéo nhau theo chồng về quê tận trời Phi (Ghi-nê, Mali, Senegal, Maroc…).

Sang Ghi-nê, phát huy được bản tính chăm làm lại dè sẻn của người con gái Việt Nam, đại đa phần các chị đều trở nên sung túc. Nhiều người giàu . Có chị như chị Quynh, sống ở một tỉnh cách thủ đô không xa, mở nhà hàng, đã gửi tặng Việt Nam mấy chục cây vàng. Ngày ấy mấy chục cây vàng là lớn lắm.

Tất cả các chị đều nặng tình với đất nước, coi sứ quán như nhà. Tình nghĩa, gắn bó. Ngày tết ngày lễ, các chị mang con cháu đến sứ quán nấu nướng, ăn uống, xem phim, hát hò. Biết sứ quán chẳng có tiền tổ chức, các chị đem đồ ăn thức uống tới. Các chị luôn nói sứ quán chỉ cần chủ trì, các chị sẽ chủ chi để có dịp gặp nhau. Cũng xin nói thêm, thời đó Việt Nam nghèo lắm, chỉ Quốc khánh năm chẵn, sứ quán mới được nhà cho tiền mở tiệc chiêu đãi. Danh sách khách mời phải được nâng lên đặt xuống duyệt xét nhiều lần, cân nhắc thân sơ, do số lượng hạn chế. Những quốc khánh năm lẻ, sứ quán chỉ viết bài giới thiệu thành tựu đất nước trên báo (mặc dù thành tựu chẳng có gì đáng kể) và mời khách ra rạp thưởng ngoạn suông một bộ phim tài liệu 35ly đen trắng, thậm chí nước uống cũng không có.

Hơn 30 năm đã qua đi. Sứ quán Việt Nam tại Conakry đã đóng cửa từ lâu. Lớp Việt kiều ấy chắc nhiều người đã khuất núi. Ai còn sống cũng già yếu lắm rồi. Con cháu họ không có gì liên hệ với Việt Nam ngoài mẹ chúng. Bởi ngay chính bản thân các chị khi còn ở Việt Nam cũng mang nặng mặc cảm với gia đình, với bè bạn làng xóm. Thậm chí các chị còn bị gia đình ruồng bỏ, họ hàng coi kinh. Thời đó, ở Việt Nam, những cô gái lấy Tây đen là việc đặng chẳng đừng. Dư luận xã hội nặng nề lắm. Họ thật là những con người tội nghiệp.

Ngay đến ngày nay thỉnh thoảng cũng có những bài báo viết không thiện cảm về những cô gái quê nghèo lấy chồng Hàn Quốc hay Đài Loan. Chắc những nhà báo này còn trẻ, chưa thấu hiểu tình đời, suy xét không đến nơi đến chốn nên họ mới có cái nhìn thiếu độ lượng. Thực ra những cô gái ấy đáng thương hơn đáng trách. Họ nào có tội tình gì. Nếu không tin, bạn hãy đọc một bức tâm thư của một cô gái lấy chồng Hàn Quốc để chúng ta thông cảm với họ.

Thư của một người ” lấy chồng xa xứ”

Tôi là một trong 40.000 cô dâu Việt trên xứ Hàn. Dù trong hay ngoài nước, ở đâu chúng tôi cũng bị báo chí và dư luận lên án. “Ô nhục”, “món hàng mất giá”, “khinh rẻ”… là những từ thường dùng nhất để nói về chúng tôi.

Chúng tôi đã khiến bao người Việt trong hay ngoài nước cảm thấy xấu hổ!

Tôi và nhiều cô dâu khác không được học hành tới nơi tới chốn nhưng cũng còn khá hơn nhiều chàng trai làng khác. Tôi sợ hãi ngày mình sẽ ở cùng nhà với những thanh niên ít học, rượu chè, cờ bạc và thô lỗ. Tôi cũng không muốn gia đình tôi mãi mãi chỉ là một túp lều mà cả đời lao động vất vả cũng không thể làm nó khang trang hơn.

Ai sẽ cứu vớt tôi ngoài chính tôi?

Trước cuộc phiêu lưu, tôi biết trước con đường sẽ vô cùng vất vả. Trước khi được “chấm”, chúng tôi bị nhìn ngắm, thậm chí bị sờ mó như những món hàng. Tôi những tưởng đây là cơ thể tôi, tôi nhịn nhục để thay đổi cuộc đời nhưng hóa ra không phải vậy. Cơ thể tôi dường như là sở hữu của mọi công dân Việt Nam! Thế nên tất cả mọi người đùng đùng nổi giận, lấy làm nhục nhã vì cơ thể tôi bị người khác nhòm ngó, chọn lựa. Trong khi trước đó, tôi bị vùi dập bởi những người đồng hương thì mọi người cho đó là chuyện bình thường.

Những người con gái quê miền Tây như chúng tôi bị coi là “nỗi ô nhục quốc thể” từ việc chúng tôi bị người nước ngoài kén vợ. Chúng tôi còn cảm thấy mọi người ít nổi giận vì chúng tôi ngu ngốc trở thành hàng hóa mà thật ra cơn phẫn nộ chính của mọi người xuất phát từ việc chúng tôi cam tâm lấy chồng ngoại và rời bỏ quê hương xứ sở. Nhưng ai sẽ cứu vớt cuộc đời tôi?

Z2401

Lấy chồng Hàn Quốc rồi, tôi ngộ ra nhiều điều. Dù cách thức đi đến hôn nhân không tốt nhưng tự trong tâm thức người chồng hay vợ đều đã tìm kiếm và mong ước được yêu thương. Nó gắn liền và dần dần hòa hợp chúng tôi. Tôi biết tình hình các cô dâu Hàn hay Đài Loan tuyệt đại bộ phận là tốt đẹp hoặc bình thường! Tôi nghĩ là có một tỉ lệ khoảng 10 % cô dâu gặp khó khăn và chừng 200 trường hợp “nguy hiểm” trên 150.000 lấy chồng Hàn Quốc và Đài Loan.

Nhưng đừng nghĩ người Hàn hay Đài Loan phân biệt chúng tôi. Chính tôi được nhiều bạn Hàn giúp đỡ và chia sẻ. Ở nơi công cộng, người Hàn không phân biệt được tôi là người nước ngoài. Con cái tôi được no ấm, học hành và có một tương lai tươi sáng. Đặc biệt, chúng được sống trong một môi trường văn hóa – xã hội mà ở quê tôi có nằm mơ cũng không thấy.

Tại sao lại gọi chúng tôi là “nỗi nhục quốc thể”?

Chính người Việt mới là luồng dư luận làm chúng tôi khổ sở, ưu tư. Tôi đã gặp may khi có được cuộc sống bình thường. Nếu như chẳng may gặp tình huống xấu hơn thì tôi cũng cố xoay sở được. Tôi không thiết gì số phận của mình. Tôi quyết tâm tìm kiếm một cuộc đời khác dù phải trải qua cực khổ bao nhiêu tôi cũng chịu được.

Xóm tôi có hơn 100 cô dâu có chồng Hàn Quốc, Đài Loan. Nó lan tỏa dần dần và ngày càng rộng ra. Lan đến đâu, nhà ngói, vườn tược xanh tươi đến đó. Tôi đã hết sức làm một nàng dâu tốt, chẳng lẽ gia đình chồng lại không rộng mở với tôi? Tôi nghĩ điều này cũng bình thường. Đôi khi, cả họ hàng nhà chồng tôi đều kéo về Việt Nam đi du lịch và thăm quê tôi. Ai cũng ấn tượng với phong cảnh thiên nhiên, thức ăn và nhất là dân quê mộc mạc chúng tôi.

Chúng tôi lấy chồng nước ngoài trong khuôn khổ luật pháp Việt Nam và quốc tế. Chúng tôi đã giữ gìn danh dự của một cô dâu, một người Việt Nam với cộng đồng người Hàn Quốc. Chúng tôi đã lan truyền tên gọi Việt Nam, thức ăn, phong tục tập quán của người Việt vào tận vô số những gia đình xa lạ kia. Chúng tôi đã, đang và sẽ góp phần xây dựng Việt Nam tốt đẹp hơn, đa dạng hơn. Với con số 150.000 và còn hơn thế nữa, chúng tôi sẽ xây dựng một thế hệ vừa khác biệt vừa rất Việt Nam.

Vậy thì tại sao mọi người lại gọi chúng tôi là “nỗi nhục quốc thể”?

(còn nữa)

Trần Thị Nguyên (Báo SGTT)

Advertisements

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s